Nguyên nhân và phương thức điều trị tăng sắc tố sau viêm
Chia sẻ bài viết lên :

Tăng sắc tố sau viêm (tên tiếng anh: PIH-Post inflammatory Hyperpigmentation) được xem là tình trạng khá phổ biến sau khi sử dụng biện pháp laser để điều trị nám nói riêng và các bệnh lý sắc tố nói chung. Vấn đề này trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và cần có sự hiểu biết để quản lý tình trạng PIH hợp lý.

Trong phần viết này, mới quý bạn đọc cùng hiểu hơn về nguyên nhân tình trạng tăng sắc tố sau viêm, kiểm tra lại xem mình đã mắc các lỗi giừ hay từng đối mặt tránh hiện trạng ấy ra sao.

Những điều bạn nên biết về tình trạng PIH

PIH được định nghĩa là “một tình trạng phổ biến do tổn thương da trước đó gây ra.” Nguyên nhân bao gồm phản ứng thuốc, phản ứng độc da do ánh sáng, viêm, kích ứng hoặc tổn thương vật lý, phản ứng dị ứng và các bệnh viêm nhiễm. Nhận dạng vùng da đang gặp tình trạng PIH được xác định khi có một mảng tăng sắc tố trong khu vực viêm. PIH phổ biến và kéo dài lâu hơn ở các loại da sẫm màu (các loại da Fitzpatrick III – VI).

Một số cơ sở chẩn đoán và điều trị da chuyên nghiệp, thường dùng Đèn Wood để phân biệt PIH thượng bì và trung bì. Sẽ có một số trường hợp thay đổi sắc tố da sau viêm như: Sinh thiết da cho thấy “sắc tố lạc chỗ ” (sắc tố thượng bì rớt vào lớp trung bì, nơi chúng không thuộc về)  hay gặp phải tình trạng “Melanophages” (tế bào hắc tố da trung bì hoặc đại thực bào thực bào sắc tố da). Hắc tố được tăng lên ở cả lớp biểu bì và lớp hạ bì và các vấn đề này cũng cho thấy rõ phần nào việc điều trị PIH cũng gặp nhiều khó khăn hơn.

Những điều bạn nên biết về tình trạng PIH
Những điều bạn nên biết về tình trạng PIH

Xem thêm: Ứng Dụng Laze Thế hệ Mới trong Thẩm Mỹ

Dịch tễ học và nguyên nhân gây PIH

PIH có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và mọi loại da và không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc ở nam và nữ. Tuy nhiên, nó xuất hiện nhiều hơn ở loại da Fitzpatrick loại IV, V và VI. Điều này có thể do hắc tố bào tăng hoạt động, được tìm thấy ở những bệnh nhân có loại da sẫm màu hơn, gây ra tăng nhạy cảm với cùng phản ứng viêm. Song đó, các hắc tố bào tăng hoạt động, cũng là nguyên nhân gây ra nám da, được coi là vấn đề cơ bản của PIH viêm da tiếp xúc kích ứng.

Yếu tố nguy cơ PIH

PIH được gây ra bởi một số nguyên nhân cơ bản có thể gây viêm. Nguyên nhân nội sinh bao gồm: các bệnh di truyền có thể gây ra “sắc tố lạc chỗ”, các bệnh về da như planus, erythema dyschronicum persistans, và facial melanoses và các bệnh toàn thân như morphea, rối loạn chuyển hóa porphyrin và xơ gan.

Nguyên nhân ngoại sinh bao gồm tổn thương vật lý, thay đổi nhiệt độ đột ngột, bức xạ ion hóa và không ion hóa, phản ứng nhiễm độc da do ánh sáng, laser tái tạo bề mặt da và viêm da tiếp xúc kích ứng.

Hai yếu tố biểu hiện nguy cơ cao về PIH : Đầu tiên, PIH có thể xảy ra như một tác dụng phụ sau khi điều trị bằng laser. Thứ hai, PIH có thể xảy ra trong “tất cả các tình huống có thể gây ra viêm”).

Tỉ lệ bị PIH do các thủ thuật thẩm mỹ

Laser phân đoạn không xâm lấn được biết đến là một thủ thuật an toàn và hiệu quả trên mọi loại da. Tuy nhiên, tình trạng sạm da sau thẩm mỹ vẫn mang tỷ lệ PIH cao khi sử dụng loại các laser  công nghệ

Ví dụ từ một cuộc nghiên cứu thực thi thủ thuật thẩm mỹ trên 18 bệnh nhân có loại da Fitzpatrick IV và V, tỉ lệ PIH là 43% khi sử dụng công nghệ laser Er:Glass 1550nm với mật độ tia thấp . Tuy nhiên, khi sử dụng mật độ tia cao hơn, PIH quan sát được trong 71% trường hợp mặc dù được sử dụng hydroquinone trước điều trị laser. Vậy câu hỏi đặc ra ở đây: liệu có tốt hay tệ hơn nếu ứng dụng công nghệ máy laser để thẩm mỹ da khi mà tình trạng PIH vẫn có hoặc tệ hơn là xảy ra nặng hơn ở một số ca.

  • Dịch tễ học và nguyên nhân gây PIH
    Dịch tễ học và nguyên nhân gây PIH

    Một nghiên cứu về việc sử dụng tia laser Er:Glass 1540 nm phân đoạn ở làn da người châu Á khi thẩm mỹ da; cho thấy tỉ lệ PIH là 7,1% khi sử dụng thông số mật độ thấp / năng lượng cao, và tỉ lệ PIH là 12,4% khi sử dụng thông, số mật độ cao / năng lượng thấp. Do đó, người ta tin rằng thông số quan trọng gây ra PIH trong laser phân đoạn là mật độ điều trị.

  • Một nghiên cứu về việc sử dụng tia Laser 532nm năng lượng 1.0 J/cm2,  trong 4 tuần sau laser. PIH hiện diện rõ với tỷ lệ PIH là 7,5–20% ở các loại da sẫm màu.

Xem thêm: Trị nám bằng Laser – Những điều chị em cần lưu ý

Các tình trạng da liễu có thể gây ra tăng sắc tố sau viêm PIH

Các bệnh lý viêm da:  Acne/acneiform eruption Pseudofolliculitis barbae, Eczema, Atopic dermatitis, Irritant contact dermatitis, Allergic contact dermatitis, Pigmented contact dermatitis, Photoallergic contact dermatitis, Lichen simplex chronicus, Insect bites, Papulosquamous, disorders, Psoriasis, Pityriasis rosea, Lichen planus/lichen planus pigmentosus, Lichenoid dermatitis, Erythema dyschromicumperstans, Connective tissue disease, Lupus erythematosus, Vasculitis, Morphea/scleroderma, Atrophoderma of Pasini and Pierini, Vesiculobullous disorders, Pemphigus, Bullous pemphigoid, Dermatitis herpetiformis, Nhiễm trùng: Impetigo, Viral,, exanthem, Chickenpox, Herpes zoster, Dermatophytosis, Syphilis Pinta, Onchocerciasis… là những nguyên nhân gây nên tình trạng tăng sắc tố sau viêm đáng được cân nhắc.

Các tình trạng da liễu gây ra tăng sắc tố sau PIH
Các tình trạng da liễu gây ra tăng sắc tố sau PIH

Phản ứng thuốc: Phototoxic dermatitis, Morbilliform eruption, Erythema multiforme, Fixed drug eruption, Stevens-Johnson syndrome/toxic epidermal necrolysis, Lichenoid drug eruption, Can thiệp thẩm mỹ: Chemical peel, Dermabrasion, Cryotherapy, Laser treatment, Intense pulsed light treatment…. là một trong những tác nhân gây viêm da, tăng sắc tố PIH trên da khi sử dụng thường xuyên hay không hợp lý, không đúng liều lượng.

Tình trạng viêm sắc tố da PIH khác: Mycosis fungoides, Neurotic excoriation, Sunburn, Trauma, Friction

  • Tỷ lệ PIH trong laser bóc tách là rất cao. Ở những bệnh nhân có loại da Fitzpatrick I-V, việc sử dụng laser Er:YAG chế độ kép cho các sẹo mụn trứng cá mức độ trung bình đến nặng cho thấy PIH 40%.Theo kết quả nghiên cứu >500 bệnh nhân (loại da I-IV) trải qua quá trình trẻ hóa da bằng laser CO2, PIH được quan sát thấy ở 37% trong tổng số bệnh nhân. PIH được quan sát thấy ở tất cả (100%) bệnh nhân có loại da IV và V.
  • Tỷ lệ PIH đối với peel hóa học tăng lên khi độ sâu khi peel tăng lên. Nồng độ hoạt chất peel hóa học bề mặt là 20–30% axit salicylic (SA), 20–70% axit glycolic (GA), và 10–30% axit trichloroacetic (TCA) và dung dịch Jessner được biết là có tỷ lệ PIH rất thấp. Trong một nghiên cứu, người châu Á, người gốc Tây Ban Nha và người Mỹ gốc Phi có loại da III – V được peel 20–30%.
  • Tỷ lệ PIH khi sử dụng lăn kim (MTS, microneedling) gây ra còn nhiều tranh cãi, và một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng PIH không xảy ra khi MTS được sử dụng để trị sẹo mụn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã báo cáo tỷ lệ PIH sau MTS lên đến 14%.
Tình trạng tiêm sắc tố da PIH
Tình trạng tiêm sắc tố da PIH

Xem thêm: Điều trị nám bằng laser có hiệu quả không? Cách điều trị nám hiệu quả nhất

Trên là bài viết chia sẻ về một số yếu tố liên quan, tỷ lệ ảnh hưởng đến dịch tễ học và  nguyên nhân tác động biểu hiện tình trạng viêm da sắc tố PIH. Các dẫn chứng trên được tổng hợp và rút ra kết luận từ các cuộc nghiên cứu sau các cuộc điều trị da thẩm mỹ. Để hiểu hơn về các dự đoán, chẩn bệnh hay cách khắc phục tình trạng PIH. Mời quý bạn đọc cùng đón xem phần tiếp theo.

Bài hay đừng ngại bấm
và bấm Chia sẻ bên dưới nhé.

Chia sẻ bài viết lên :