Biểu hiện lâm sàng trước và sau điều trị rám má
Chia sẻ bài viết lên :

Biểu hiện lâm sàng trước và sau của tình trạng thẩm mỹ da nói chung và điều trị rám má nói riêng là cách để người bệnh và người trị nhận biết, đánh giá, đưa ra phương án điều trị, giải pháp tối ưu và hiệu quả tốt. Vì thế, nhận biết trước các bệnh lý để chủ động tìm cho mình giải pháp phòng tránh và điều trị phù hợp sẽ có ích khá nhiều cho những ai đang quan tâm đến vấn đề này.

Các đặc điểm lâm sàng rám má

  •  Thời gian khởi phát rám má: rám má là tình trạng thường xảy ra nhiều ở phụ nữ mang thai, chúng bị khởi phát trong 3 tháng đầu thai kỳ và tăng nặng dần đến 3 tháng cuối thai, chiếm 58,7% số lượng mắc bệnh lý so với các đối tượng khác.
  • Thể lâm sàng: dưới đây là tỷ lệ % thể lâm sàng của một số cuộc nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh, loại rám má hay mắc bệnh.
  • Đặc điểm lâm sàng sau điều trị rám má
    Đặc điểm lâm sàng sau điều trị rám má

    Thể lâm sàng rám má thường gặp nhất trong nghiên cứu là thể cánh bướm; không có thể hàm dưới. Nghiên cứu tại các quốc gia Morocco, Brazil, Iran và Palestin cho thấy thể lâm sàng thường gặp nhất cũng là thể cánh bướm. Ngược lại trong một số nghiên cứu khác tại các nước Tunisi và Hàn Quốc thì thể lâm sàng thường gặp nhất là thể trung tâm mặt. Tỉ lệ thể trung tâm mặt thấp và không có thể hàm dưới trong nghiên cứu này có thể là do đặc tính riêng của từng mẫu nghiên cứu. Điều này cũng có thể do phụ nữ mang khẩu trang và đội nón bảo hiểm khi ra đường. Đây có thể là yếu tố hỗ trợ bảo vệ chống lại ANMT.

  • Loại rám má: Phân loại rám má đóng vai trò quan trọng trong tiên lượng và điều trị các bệnh lý về rám má. Cách phân loại này được thực hiện soi bằng dụng cụ soi đèn wood. Chúng được phân ra các loại: rám má thượng bị và rám má hỗn hợp
  • Một số nghiên cứu về rán má hỗn hợp cho thấy:  tỷ lệ ở Việt Nam(76,7%) cao hơn một số nhà nghiên cứu khác như:  Wong RC và cs [31] (Hoa Kỳ, 1984) cho thấy 72% rám má thượng bì, chỉ 5% rám má hỗn hợp. Trong nghiên cứu của Muzafar F và cs [6] (Pakistan, 1998) thì 63% rám má thượng bì và 25% rám má hỗn hợp.
  • Điều này có thể là do sự khác nhau về chủng tộc, vùng địa lý, thói quen tránh nắng của mỗi vùng miền.

Ngoài ra còn có: Các rối loạn tăng hắc tố da trong thai kỳ (tàn nhang; sạm da đường giữa bụng; sạm da quanh rốn; sạm da quầng vú).

  • Tỷ lệ sạm da quầng vú là phổ biến nhất (90,2%), cao hơn trong nghiên cứu của Moin A (82,5%);
  • Tỷ lệ sạm da đường giữa bụng (59,6%) thấp hơn nhiều so với kết quả của Moin A (87,1%);
  • Tỷ lệ sạm da quanh rốn gặp trong hơn phân nửa bệnh nhân. Các thay đổi tăng hắc tố này là đặc trưng cho những biến đổi sinh lý da trong thai kỳ. Những tỉ lệ này khá cao là hoàn toàn phù hợp với ghi nhận trong y văn cũng như trong các nghiên cứu trước. Các thay đổi nội tiết tố có thể tác động đến việc hình thành rám má và các tổn thương tăng hắc tố da trong thời gian mang thai.
  • Tuy nhiên trong các nghiên cứu khác thai phụ có sạm da quầng vú hoặc sạm da đường giữa bụng có tỉ lệ rám má cao hơn nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Phân loại rám má
Phân loại rám má

Điều này cho thấy chỉ riêng estrogen không phải là yếu tố nguyên nhân gây rám má, mà khi các lượng sắc tố khác trên da như: tàn nhang, nám trên mặt gia tăng thì tỷ lệ rám má cũng tăng theo có ý nghĩa thống kê.

Một hình thức biến thể sau rám má là tàn nhang; Tàn nhang là bệnh lý tăng hắc tố da có nguyên nhân liên quan đến gene và yếu tố thúc đẩy là ANMT. Như vậy tỉ lệ tàn nhang khá cao ở phụ nữ mang thai bị rám má cho thấy vai trò sinh bệnh quan trọng của UVR trong cả hai rám má và tàn nhang. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu khác nhau có thể là do sự khác nhau về chủng tộc và vùng địa lý.

Phương pháp tránh các yếu tố liên quan đến rám má

Vừa trên chúng ta đã điểm qua một số thông tin về hình dạng, phân loại rám má nói riêng và bệnh lý sắc tố nói chung. Với các biểu hiện chung. Những yếu tố gây ảnh hưởng được nêu rõ ngay sau đây sẽ là:

  • Biểu hiện rám má, bệnh lý sắc tố qua độ Tuổi: tuổi tr
    Phương pháp tránh rám má
    Phương pháp tránh rám má

    ung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 31,3 ± 4,1 tuổi, trong đó 62,2% đối tượng có tuổi từ 30 trở lên. Kết quả này phù hợp với đa số nghiên cứu khác trên thế giới và cho thấy một điều rằng: Tuổi càng lớn thì tỉ lệ rám má càng tăng do tăng thời lượng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ của rám má như ANMT, mỹ phẩm và thay đổi nội tiết tố càng nhiều.

  • Biểu hiện rám má, bệnh lý sắc tố qua Địa dư: Địa dư có liên quan đến rám má hay không sẽ tùy thuộc vào 3 yếu tố: cường độ ánh nắng, type da của dân số, và văn hóa tại vùng miền đó. Do đó bảo vệ da chống nắng là yếu tố rất quan trọng trong việc phòng ngừa và cải thiện các tình trạng rối loạn tăng hắc tố da, bao gồm cả rám má.

Xem thêm: Điều trị nám bằng laser có hiệu quả không?

  • Biểu hiện rám má, bệnh lý sắc tố qua Tuổi thai: Tuổi thai trung bình là 25,3 ± 9,5 tuần, trong đó thai lớn nhất là 40 tuần và nhỏ nhất là 5 tuần tuổi. Rám má thường gặp hơn trong 3 tháng cuối thai kỳ 54,4%. Kết quả này tương đương với nghiên cứu tại Iran là phần lớn phụ nữ mang thai 3 tháng cuối bị rám má và hầu hết rám má thấy rõ trong 3 tháng cuối. Có thể là do sự thay đổi tăng dần nồng độ của một số nội tiết tố trong thai kỳ như MSH, estrogen hoặc có thể là progesterone. Khi thai kỳ tiến triển thì sự kích thích tăng sinh hắc tố da của các nội tiết tố này cũng sẽ tăng dần.
  • Biểu hiện rám má, bệnh lý sắc tố qua Số lần sinh: Nghiên cứu tại Iran [3] cho thấy số lần sinh con có liên quan đến rám má. Rám má cũng tăng trong những trường hợp có số lần mang thai tăng. Hexsel D và cs đưa ra kết luận sinh con càng nhiều lần thì tỉ lệ rám má càng cao (3.6 + 2.5 vs 2.4 + 1.7).

Ở Việt Nam, qua cuộc Nghiên cứu của Hoàng Văn Minh và cs cho thấy tỉ lệ rám má sẽ tăng dần khi thai phụ có nhiều con . Rám má có thể tăng cùng với mỗi lần mang thai sau đó và ngày càng trở nên rõ hơn, tái phát trong 7.6% trường hợp.

Nghiên cứu rám má ở phụ nữ Brazil cho thấy rám má do thai kỳ thường gặp hơn trên phụ nữ đã sinh nhiều lần. Tỉ lệ xuất hiện rám má lần đầu trong thai kỳ cũng tăng tỉ lệ thuận với số lần mang thai (gấp đôi nếu mang thai lần thứ hai, gấp ba nếu mang thai lần thứ ba). Đa số (61,2%) trường hợp đã từng sinh con, phù hợp với các nhận xét trên. Sự gia tăng nội tiết tố của nhau thai, buồng trứng, tuyến yên có thể là nguyên nhân của rám má liên quan đến thai kỳ. Tăng MSH, estrogen và progesterone gây tăng sự sinh tổng hợp hắc tố và cũng có thể góp phần gây rám má.

  • Biểu hiện rám má, bệnh lý sắc tố qua Thói quen bôi kem chống nắng

Theo thống kê, 77,3% không có thói quen bôi kem chống nắng, rất hiếm trường hợp (0,7%) dùng kem chống nắng đúng cách. Các nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho kết quả tương tự.

  • Tại Iran phần lớn phụ nữ rám má (75.8%) không dùng kem chống nắng và chỉ 6.4% luôn luôn bôi kem chống nắng.
  • Tại Brazil, có 71.7% bệnh nhân đã không dùng kem chống nắng cho đến khi bị rám má.
  • Tại Morocco, hầu hết chỉ bôi chống nắng sau khi bắt đầu bị rám má.

Xem thêm: Laser tác động lên sắc tố như thế nào?

Tuy không phải tất cả phụ nữ mang thai nói riêng hoặc phụ nữ nói chung tiếp xúc nhiều với ANMT và không sử dụng biện pháp chống nắng đúng cách đều phát triển rám má, nhưng việc sử dụng đúng cách kem chống nắng có thể hỗ trợ điều trị và phòng ngừa đáng kể tình trạng này đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu.

Ngoài ra các tình trạng bệnh lý các sắc tố, rám má còn biểu hiện qua một số nguyên nhân “tiền sử, tiểu sử” trước đó và gây nên tình trạng làn da không thẩm mỹ. Mời quý bạn đọc cùng đón xem tiếp bài đọc được chia sẻ phần sau. Và đừng quên comment với chúng tôi về những kiến thức thẩm mỹ và bình luận, bổ sung sau những bài viết từ thiết bị thẩm mỹ Osaka nhé.

Theo: LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC từ tác giả LÊ THÁI VÂN THANH về cuộc NGHIÊN CỨU RÁM MÁ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP.

Bài hay đừng ngại bấm
và bấm Chia sẻ bên dưới nhé.

Chia sẻ bài viết lên :