Phân tích cơ chế hoạt động sản phẩm chống rám má
Chia sẻ bài viết lên :

Phân tích cơ chế hoạt động trong các chất sản phẩm chống rám má, bệnh lý sắc tố là một quá trình tìm hiểu, kiểm nghiệm và đưa ra những đánh giá, kết lực về tính năng, hiệu dụng của các chất. Trong bài viết dưới đây, quý bạn đọc sẽ phần nào hiểu tất tần tật về các nhóm chất ức chế, kiểm hãm, điều trị, giảm bớt các bệnh lý sắc tố, rám má.

Thuốc bôi tẩy rám má

Một thuốc tẩy rám lý tưởng phải hội đủ một số tiêu chuẩn dược lý sau đây: hiệu quả tẩy trắng da mạnh, thời gian khởi phát tác dụng nhanh (ít hơn 2- 3 tháng), không có tác dụng phụ trước mắt hoặc lâu dài, lấy sạch hắc tố bệnh lý vĩnh viễn. Phần lớn các thuốc tẩy rám hiện nay đều có tác dụng tạm thời, hiệu quả chỉ đối với rám má thượng bì và tăng hắc tố thường tái phát sau khi ngưng điều trị. Chưa có một thuốc bôi nào có hiệu quả trên rám má trung bì.

Xem thêm: Rối loạn sắc tố da và những điều cần biết

Chất ức chế men tyrosinase

HYDROQUINONE (HQ)

 HQ là một phức hợp hóa học hydroxyphenolic, ức chế sự đảo ngược của dopa thành melanin bằng cách ức chế men tyrosinase, ngăn cản sự hình thành hoặc thoái hóa của melanosome và ức chế sự tổng hợp DNA và RNA trong tế bào hắc tố. Tác dụng phụ bao gồm kích ứng da (0-70% trong đơn trị liệu HQ và 10-100% trong điều trị kết hợp), viêm da tiếp xúc dị ứng (hiếm gặp). Một số nghiên cứu cho thấy HQ gây ra bệnh da xám nâu (ochronosis) ngoại sinh. Bệnh do lắng đọng hắc tố xanh-đen trên vùng da bôi thuốc. Tình trạng này rất hiếm gặp ở ngoài Châu Phi. Từ năm 1966 đến 2007, tỉ lệ là 756/789 tại Châu Phi, 22/789 tại Hoa Kỳ, 8/789 tại Châu Âu, 2/789 tại Puerto Rico, 1/789 tại Ấn Độ. Bệnh cũng có thể tồn tại nhưng hiếm ở người da sáng gốc Trung Quốc khi bôi HQ từ hơn 2 năm. Phân loại nguy cơ thuốc trong thai kỳ theo FDA là C.

Tyrosinase kiểm soát như thế nào
Tyrosinase kiểm soát như thế nào

AZELAIC ACID (AzA)

  • Công thức hóa học: AzA là một acid thiên nhiên 1,7-heptadicarboxylic chuỗi thẳng bão hòa, có trọng lượng phân tử 188.22.  Công thức phân tử Công thức cấu tạo Mô hình (CH2)7(CO2H)2.
  • Dược động: AzA là một phức hợp tinh khiết đối với cơ thể người. AzA có thể được dùng qua đường uống, truyền tĩnh mạch, truyền bạch mạch, bôi ngoài da. Sau khi bôi, thuốc thấm qua thượng bì theo cách thức phụ thuộc thời gian.
  • 5% liều đã bôi thấm qua lớp sừng, <10% liều đã bôi hiện diện tại lớp thượng bì và trung bì) và < 4% liều bôi được hấp thu vào máu in vitro. Tuy nhiên sự hấp thu qua da người rất thấp. Sau bôi, nồng độ trong huyết tương (20 – 80ng/ mL) và trong nước tiểu (4-28mg) không thay đổi so với nồng độ cơ bản.

Xem thêm: Tổn thương sắc tố da và các phương pháp điều trị bệnh lý tăng sắc tố da

  • Tác dụng: hiệu quả trong điều trị mụn trứng cá và các tình trạng tăng hắc tố da (đốm nâu, u hắc tố, rám má). AzA tác dụng chống tăng sinh và gây độc tế bào có chọn lọc trên các tế bào hắc tố tăng hoạt hóa. AzA ức chế có thể hồi phục các men DNA polymerase, tyrosinase và các men hô hấp của ty lạp thể. AzA tác động tối thiểu trên da có hắc tố bình thường.
  • Nguồn gốc: có trong sữa, lúa mì (wheat), lúa mạch đen (rye) và lúa mạch (barley).
  • Sản xuất: Trong công nghiệp AzA được sản xuất bằng cách ly giải ozone của oleic acid. Trong thiên nhiên nó được tạo ra bởi Malassezia furfur (cũng được biết là Pityrosporum ovale), một loại nấm men thường trú trên da. Sự thoái hóa của nonanoic acid do vi khuẩn cũng tạo ra AzA.

KOJIC ACID

  • Nguồn gốc: là chuyển hóa của nấm Acetobacter, Aspergillus, Penicillium.
  • Tác dụng: Kojic acid gây bất hoạt men tyrosinase bằng cách chelate hóa đồng và ức chế tautome hóa từ dopachrome thành 5,6-dihydroindole-2-carboxy acid, kích thích tế bào sừng sản xuất interleukin-6. Không dùng kojic acid đơn trị cho rám má do hiệu quả kém hơn HQ 2%. Thuốc thường được kết hợp với những chất sáng da khác như arbutin hoặc cam thảo (licorice) trong mỹ phẩm.
  • Chưa được nghiên cứu trên đối tượng mang thai.

CHIẾT XUẤT TỪ CAM THẢO (LICORICE)

Flavonoid từ rễ cam thảo, như glabrene và isoliquiritigenin, là các chất ức tyrosinase hiệu quả.Liquirtin, cũng là một flavonoid tìm thấy trong dẫn xuất của cam thảo, dùng ở dạng kem 2% và có khả năng làm mất hắc tố thông qua sự phá hủy và lấy đi hắc tố melanin trong thượng bì.

RUCINOL

Rucinol, một dẫn chất của resorcinol, là chất đầu tiên cho thấy ức chế cả hai men tyrosinase và TRP-1.

CÁC PHỨC HỢP KHÁC

4-S-Cystaminylphenol (4-S-CAP) và các dẫn chất, acerola (Malpighia emarginata chứa carotenoids, bioflavonoids, vitamin C nồng độ cao), aloesin, arbutin, cây thường xanh dây leo (bearberry), cinnamic acid, ellagic acid, macelignan, methyl gentisate (MG), chiết xuất cây dâu tằm giấy (paper mulberry extract), resveratrol, oxyresveratrol (tác dụng mạnh gấp 150 lần hơn resveratrol, chiết xuất sophora (kurarinol, kuraridinol, và trifolirhizin).

Xem thêm: Điều trị nám ở đâu tốt nhất?

Chất làm giảm gốc tự do

ASCORBIC ACID

L-ascorbic-2-phosphate (magnesium-L-ascorbyl-2-phosphate) là một dẫn xuất vitamin C ổn định. Ascorbic acid là phương thức điều trị hỗ trợ trong rám má nói riêng và có hiệu quả trong điều trị tăng hắc tố nói chung.

Chất ức chế men Tyrosinase
Chất ức chế men Tyrosinase

TETRAHYDROCURCUMIN (THC)

Curcumin là một chất chống oxy hóa có nguồn gốc từ củ nghệ. Trong một nghiên cứu có kiểm chứng bằng giả dược, mù đôi, cục bộ, được thực hiện tại Viện Nghiên Cứu Thuốc Nhiệt Đới (Research Institute for Tropical Medicine) của Philippines, hiệu quả gây mất hắc tố của THC 0.25% và HQ 4% là tương đương nhau trong suốt thử nghiệm kéo dài 4 tuần trên 50 bệnh nhân.

Ngoài ra còn có 1 vài hợp chất khác: Glutathione, thioctic acid (alpha-lipoic acid), alpha-tocopherol.

Chất ức chế sự di chuyển melanosome

NIACINAMIDE

Niacinamide ức chế 35-68% sự di chuyển melanosome trong một mẫu đồng canh cấy tế bào sừng/tế bào hắc tố và làm giảm hắc tố da trên một mẫu thượng bì tái cấu trúc nhiễm hắc tố.

OCTADECENEDIOIC ACID

Octadecene Dioic Acid là một dicarboxylic acid đơn bão hòa có nguồn gốc từ sự lên men sinh học của oleic acid. Thử nghiệm bôi một lần mỗi ngày, trong 8 tuần, trên 20 bệnh nhân rám má, cho thấy 42.3% giảm chỉ số MASI.

CHIẾT XUẤT ĐẬU NÀNH

Hermanns đã ghi nhận hoạt tính làm sáng da trên lâm sàng của chiết xuất đậu nành. Nó được xem là một điều trị thay thế HQ cho PIH và rám má.

Di chuyển hoạt động Melanosome
Di chuyển hoạt động Melanosome

Chất tăng cường chu chuyển tế bào

RETINOIC ACID (TRETINOIN)

Dùng đơn trị hoặc kết hợp với các thuốc khác để điều trị rám má. Phân loại nguy cơ thuốc trong thai kỳ theo FDA: C

ALPHA-HYDROXY ACIDS (AHAs)

AHAs là một nhóm các phức hợp hóa học carboxylic acid được thay thế với nhóm hydroxyl trên vị trí carbon kế cận. AHAs có nguồn gốc từ thức ăn bao gồm glycolic acid (từ mía đường), lactic acid (từ sữa chua), malic acid (từ táo),citric acid (từ trái cây họ chanh) và tartaric acid (từ rượu nho), mandelic acid.

AHAs làm giảm sự kết dính tế bào giữa các tế bào sừng tại vị trí trong cùng của lớp sừng. Ngoài ra AHAs còn tác động gây tăng số lượng mucopolysaccharides và sợi liên kết (collagen), giúp tăng độ dầy da nhưng không gây viêm.

Ức chế di chuyển Melanosome
Ức chế di chuyển Melanosome

BETA-HYDROXY ACID – SALICYLIC ACID

Kết hợp HQ 4% và lột salicylic acid giúp cải thiện 66% bệnh nhân rám má. Thuốc được dung nạp tốt ở bệnh nhân có type da V và VI (84%).

Trên là bài viết phân tích cơ chế hoạt động các chất giúp ức chế, giảm và hạn chế tăng lượng melanin sắc tố trong da, gây tình trạng rám má. Để trên là những thông tin giúp quý bạn chọn lựa sản phẩm phù hợp sử dụng trên là da có vấn đề, hạn chế gây biến chứng da khi sử dụng những chất dược – mỹ phẩm gây hại, hay vận dụng phương pháp điều trị chưa đạt hiệu quả.

Theo: LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC từ tác giả LÊ THÁI VÂN THANH về cuộc NGHIÊN CỨU RÁM MÁ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP.

Bài hay đừng ngại bấm
và bấm Chia sẻ bên dưới nhé.

Chia sẻ bài viết lên :