Nghiên cứu rám ma trên phụ nữa
Chia sẻ bài viết lên :

Để có bài viết chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh bệnh học Rám Má ở phụ nữ mang thai dưới đây. Thiết bị thẩm mỹ OSAKA đã có đọc qua về cuộc nghiên cứu từ LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC từ tác giả LÊ THÁI VÂN THANH về cuộc NGHIÊN CỨU RÁM MÁ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP.

 Với các yếu tố hình thành và tác động dưới đây. Phần nào sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về cách hình thành rám má và rút ra được cho mình phác đồ điều trị hợp lý.

Các yếu tố thay đổi làm tăng sắc tố da

Tăng sắc tố da trong thai kỳ là do sự gia tăng của một số nội tiết tố rau thai, tuyến yên và buồng trứng. Trong đó, Sự thay đổi điển hình là: nồng độ estrogen, progesterone và MSH cũng như sự phân bố sắc tố melanin trong suốt thời gian mang thai chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Tế bào sắc tố được ủ với nội tiết tố tuyến yên (1,25-dihydroxyvitamin D3, α-MSH, β-MSH, ACTH, FSH, LH) hoặc nội tiết tố buồng trứng (β-estradiol, progesterone) sẽ phình to và mọc đuôi gai, tăng hoạt tính men tyrosinase và Tyrp-1

Quá trình thay đổi Estrogen  – Progesterone

Cơ chế gây rám má trong thai kỳ có liên quan đến tế bào sắc tố tăng nhạy cảm khi nồng độ estro-progesterone gia tăng.  Tế bào sắc tố tại các tổn thương mụn ruồi hoặc tàn nhang trong thời kỳ mang thai trở nên tăng nhạy cảm với sự thay đổi nồng độ estroge.

Yếu tố sử dụng thuốc ngừa thai trước đó hay chu kỳ kinh nguyệt thay đổi, rối loạn chức năng từ cung và buồng chứng (chloasma uterinum) cũng là sự thay đổi lớn ảnh hưởng đến lượng estrogen trên cơ thể, làm tăng tỷ lệ rám má cao hơn. Điều này cho thấy tăng sắc tố trên mặt có liên quan đến sự thay đổi nồng độ estrogen và progesterone.

Mặc dù estrogen, progesterone là các yếu tố liên quan đến rám má thai kỳ, tuy nhiên người ta chưa thấy sự tương quan giữa nồng độ hormone với mức độ rám má. Hơn nữa nồng độ các nội tiết tố này trong thuốc tránh thai đường uống thì không đủ cao để gây ra sạm da.

Xem thêm: Tình trạng rối loạn tăng sắc tố da

Thay đổi Estrogen gây tăng rám da phụ nữ sau sinh
Thay đổi Estrogen gây tăng rám da phụ nữ sau sinh

Estrogen tương tác và hoạt hóa tế bào sắc tố thông qua các thụ thể estrogen (ER) nội bào chuyên biệt. Hai đồng phân của ER nhân đã được tìm thấy là -ER và -ER. Alpha-ER, khu trú trên nhiễm sắc thể số 6 được tìm ra đầu tiên năm 1986. Sau 10 năm, -ER được tìm ra khu trú trên nhiễm sắc thể 14. Các ER thuộc về siêu gia đình thụ thể nhân, bao gồm những thụ thể của vitamin D3, retinoic acid, steroid và nội tiết tố tuyến giáp.

Một nghiên cứu cho thấy rằng -ER, không phải -ER, là loại ER ưu thế trong các tổn thương tế bào sắc tố. Hơn nữa, tế bào sắc tố của mụn ruồi, u sắc tố ác tính không có -ER, nhưng có -ER.

Kết quả nghiên cứu nhuộm hóa mô miễn dịch dương tính -ER trong thượng bì của vùng da bị rám má. Lớp tế bào đáy và gai có hoạt tính miễn dịch với -ER cao hơn lớp hạt. Ngược lại, không tìm thấy -ER trong thượng bì của tổn thương rám và vùng da bình thường xung quanh.

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Hàn Quốc cũng cho thấy sự trình diện -ER qua nhuộm hóa mô miễn dịch có khuynh hướng tăng tại tổn thương rám má thượng bì nhưng tăng không có ý nghĩa thống kê so với thượng bì lành xung quanh. Các tế bào lớp gai là những tế bào có ái tính gắn kết estrogen cao và hiện diện cả hai loại ER.

Xem thêm: Phương pháp điều trị nám da tốt nhất hiện nay

Ngoài ra một số nghiên cứu đã chứng minh điều trị bằng estrogen có thể dẫn đến tăng số lượng yếu tố tăng trưởng tế bào gai (KGF), từ đó có thể gây tăng sản xuất và lắng đọng sắc tố. Như vậy tế bào gai của da bị rám chứa chủ yếu -ER, và thông qua -ER estrogen có thể đóng vai trò sinh rám má. Tuy nhiên vai trò chính xác của ER trong tăng sắc tố vẫn chưa rõ. Điều rất thú vị là tổn thương rám má có sự gia tăng hệ mạch máu và yếu tố tăng trưởng biểu mô mạch máu (vessel endothelial growth factor-VEGF).

Ngoài ra, -ER trình diện rất nhiều xung quanh các mạch máu nhỏ và các tế bào giống nguyên bào sợi tại tổn thương trung bì. Progesterone tác động đến tế bào s

ắc tố thông qua thụ thể progesterone nội bào (PR). PR ưu thế tại thượng bì tổn thương hơn là tại thượng bì không bị

ư rám. Các dấu hiệu này nói lên rằng estrogen và progesterone có thể hỗ trợ hoặc hiệp đồng tạo ra tăng sắc tố bằng cách kích thích sinh tổng hợp sắc tố tại các tế bào sắc tố, đặc biệt trong thai kỳ.

Quá trình thay đổi MSH

MSH có chức năng kích thích các tế bào sắc tố sản xuất sắc tố cho da và tóc, thông qua gây tăng hoạt tính men tyrosinase. Năm 1967, Snell đã tổng kết về hoạt động ưu thế của MSH trên tế bào sắc tố ở động vật có vú, đặc biệt là ở người. Tiêm α-MSH và β-MSH vào người có thể gây sạm da mà không cần tiếp xúc với UVR.

MSH hoạt động bằng cách bám vào thụ thể màng chuyên biệt trên tế bào sắc tố. Sự tương tác này dẫn đến hoạt hóa adenyl cyclase, gây tăng AMPc nội bào (“một chất truyền tín hiệu thứ hai”). Chính AMPc kích hoạt MSH và tăng hoạt tính men tyrosinase, tạo nên sắc tố eumelanin sẫm màu. Đặc biệt các nghiên cứu trên canh cấy tế bào sắc tố người gần đây cho thấy vai trò của protein kinase C như là một chất kích thích cho sinh tổng hợp sắc tố.

Chỉ số MSH gây tăng tình trạng nám da
Chỉ số MSH gây tăng tình trạng nám da

Tác dụng của MSH được kiểm soát bởi MC1-R – đây là một tổ chức hiện diện trên bề mặt tế bào sắc tố và trong các tế bào khác như bạch cầu đơn nhân, bạch cầu đa nhân trung tính, tế bào thần kinh đệm (glioma cells), tế bào hình sao, đại thực bào, nguyên bào sợi, tế bào nội mô, tế bào sừng. Năm 1992, Mountjoy và các cộng sự tại trường Đại học Khoa học Y tế Oregon, Portland, thông báo đã nhân bản một thụ thể nội tiết tố MC1-R ở người và ở chuột. Các tác giả cũng chứng minh đột biến gen của thụ thể này làm thay đổi màu lông trên chuột. Năm 1995, Valverde và cs báo cáo trường hợp tương tự các dạng bất thường của thụ thể liên quan đến sự thay đổi màu tóc và màu da ở người.

Chất đối kháng của MC1-R, protein báo hiệu AGOUTI (ASP), được sản xuất trong nang lông và hoạt động thông qua quá trình ức chế sinh tổng hợp eumelanin. Hoạt tính của MC1-R được

tăng cường bằng cách bám dính với α-MSH, dẫn đến sinh eumelanin. Rối loạn chức năng của MC1-R hoặc kết hợp với ASP gây chẹn MC1-R và dẫn đến sinh pheomelanin.

Xem thêm: So Sánh công nghệ Laser Q-Switched Hàn Quốc có tốt hơn Laser PICO Trung Quốc?

Người ta đã mô tả một nhóm gồm 5 thụ thể melanocortin, liên kết với protein G, với bảy kênh xuyên màng (7 con đường thông với màng tế bào) và ASP. Các biến thể trong gen quy định MC1-R là các yếu tố cần gây ra tàn nhang, nhưng có vai trò ít quan trọng hơn trong các trường hợp đốm nâu.

Trước đây nồng độ MSH tăng đã được mặc nhiên công nhận là nguyên nhân của tăng sắc tố. Thậm chí sự hiện diện của MSH trong nước tiểu được sử dụng như là một kiểm chứng cho việc tăng sắc tố trong thai kỳ. Shizume và Lerner phân tích nước tiểu của 38 phụ nữ mang thai hoặc sau khi sinh và máu của 13 phụ nữ mang thai bằng cách sử dụng các phương pháp thử nghiệm sinh học (bioassay) cho thấy sau tháng thứ hai của thai kỳ, mức độ MSH trong nước tiểu cao trên mức bình thường. Mức độ MSH tiếp tục tăng cao cho đến khi sinh và sau đó nhanh chóng giảm dần về bình thường trong vòng 5 ngày sau sinh.

Một số nhà khoa học khác cũng đề xuất việc tầm soát MSH trong thai kỳ bởi tầm quan trọng của nó. Sau này, các phương pháp thử nghiệm sinh học bị nghi ngờ, bởi vì những xét nghiệm này thiếu đặc hiệu, không thể xác định đúng các chất và không chắc chắn nếu các chất có nguồn gốc từ tuyến yên. Một nghiên cứu đánh giá mức độ MSH trong 9 phụ nữ với rám má nguyên phát (không do thai kỳ hay liên quan đến thuốc tránh thai đường uống) cho thấy không tăng mức độ MSH so với mức độ giới hạn. Tuy nhiên đa số nghiên cứu đều cho rằng rám má có liên quan đến việc tăng sản xuất MSH.

Mức độ Estrogen gây tăng sắc tố rám da
Mức độ Estrogen gây tăng sắc tố rám da

Trên là bài viết chia sẻ về các yếu tố thay đổi quan trọng: estrogen, progesterone, ACTH, MSH trong việc biểu hiện hay tăng tình trạng sắc tố rám má ở phụ nữ sau sinh nói riêng và các bệnh lý sắc tố da liễu nói chung. Qua trên chúng ta có thể thấy rõ chi tiết về cơ cấu thay đổi và rút ra được tiến trình kiểm soát và có được phác đồ điều trị hợp lý khi tình trạng có dấu hiệu xảy ra. Biện pháp điều trị như thế nào là hợp lý, chi tiết các giải pháp cụ thể như thế nào sẽ mời bạn đọc cùng đón xem bài viết tiếp theo ở kỳ sau. Bài viết được trích nội dung từ LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC từ tác giả LÊ THÁI VÂN THANH về cuộc NGHIÊN CỨU RÁM MÁ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP.

Bài hay đừng ngại bấm
và bấm Chia sẻ bên dưới nhé.

Chia sẻ bài viết lên :