Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ rám má
Chia sẻ bài viết lên :

Sẽ có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ rám má, rối loạn sắc tố da, bệnh lý da….rằng chúng nặng hay nhẹ  sẽ phụ thuộc vào biến chứng các yếu tố đó, cùng các mối tương quan của chúng. Trong bài viết ngày hôm nay, cùng quý bạn đọc cùng xem qua bài viết về chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh lý sắc tố cùng mối tương quan của chúng ra sao.

Mức ảnh hưởng các yếu tố gây bệnh lý sắc tố

Đầu tiên là Chỉ số MASI

Chỉ số này có tính chất chủ quan nhưng đây là phương pháp đánh giá mức độ bệnh tăng hắc tố tương đối chính xác và toàn diện nhất.

  • Các nhà thực hiện nghiên cứu dùng khoảng tứ phân vị 0, 25, 50, 100 để chia độ nặng thang MASI trên số nghiên cứu nhằm để biến đổi biến số liên tục thành biến số rời. Theo cách biến đổi này thì thang điểm MASI được định nghĩa như sau: MASI < 5.5 là nhẹ; MASI từ > 5.5 đến < 8.7 là trung bình; MASI từ > 8.7 đến < 13.1 là nặng; và MASI từ > 13.1 là rất nặng.

Yếu tố tàn nhang xuất hiện cùng rám má

  • Kết quả từ nghiên cứu củ họ cũng như từ nghiên cứu khác cho thấy: rám má trong thai kỳ thường khởi phát sớm trong 3 tháng đầu. Tuy nhiên không có mối liên quan giữa mức độ mức độ nặng của rám má ở phụ nữ mang thai và thời gian khởi phát rám má, thể lâm sàng, loại rám má. Rất hiếm dữ liệu trong y văn cũng như trong các nghiên cứu đã công bố viết về vấn đề này ngoại trừ một ghi nhận của Tamega ADA là rám má do thai kỳ không liên quan đến thể lâm sàng.
  • Trong nghiên cứu, kết quả cho thấy thêm: có gần 40% trường hợp rám má kèm tàn nhang. Các tổn thương hắc tố có sẵn như tàn nhang, mụn ruồi sẽ bị tăng nặng trong thai kỳ. Rám má có nguy cơ xuất hiện và tăng nặng dần trong thai kỳ do trong những trường hợp rám má nặng/rất nặng tổn thương rám má đã chồng lấp tổn thương tàn nhang làm cho chúng ta không nhận ra trên lâm sàng. Do đó tỉ lệ bệnh nhân có tổn thương tàn nhang trên thực tế có thể sẽ cao hơn nhiều so với kết quả trong nghiên cứu.
Các yếu tố ảnh hưởng đển rám má sắc tố
Các yếu tố ảnh hưởng đển rám má sắc tố

Tuổi thai phụ có liên quan đến mức độ nặng của rám má

  • Thai phụ sạm da đường giữa bụng có rám má nặng cao gấp 2,40 lần so với người không sạm da đường giữa bụng (KTC 95%: 1,38 – 4,18). Thai phụ sạm da quanh rốn có MASI nặng/rất nặng cao gấp 2,06 lần so với người không sạm da quanh rốn (KTC 95%: 1,23-3,46). Điều này rất thú vị để dựa vào đó chúng ta có thể dự báo độ nặng của rám má.
  • Các thai phụ từ trên 30 tuổi dễ bị rám má nặng/rất nặng gấp gần 3 lần so với các thai phụ dưới 30 tuổi bị rám má trong thai kỳ. Yếu tố tuổi có thể liên quan đến thời gian tích lũy tiếp xúc với các tác nhân gây lão hóa da từ môi trường bên ngoài như ANMT, mỹ phẩm, các gốc tự do có trong chế độ ăn hoặc các tác nhân gây lão hóa da từ môi trường bên trong như mặc định chết tế bào theo chương trình, stress…
  • Thai phụ mang thai 3 tháng cuối thì có khả năng bị rám má nặng/rất nặng cao hơn gấp 2,85 lần so với thai phụ mang thai 3 tháng giữa (p < 0,01; KTC 95%: 1,48 – 5,47). Tuy nhiên, các nghiên cứu khác trên thế giới đã ghi nhận không có sự liên quan đáng kể giữa rám má và thời gian mang thai.

Xem thêm: Nên mua máy điều trị sắc tố nào?

Số lần sinh và các chỉ số gây bệnh lý sắc tố

Benchikhi H và cs cho rằng rám má không liên quan số lần sanh. Ngược lại, Hexsel D và cs kết luận có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa rám má và số lần mang thai.

Thai kỳ là một trong những nguyên nhân gây rám má đã được ghi nhận trong y văn. Điều này là cơ sở cho lý giải kết quả nghiên cứu của chúng tôi. Thai phụ có số lần sinh càng nhiều thì khả năng bị rám má nặng/rất nặng càng cao, cụ thể thai phụ đã sinh từ 2 lần trở lên có khả năng bị rám má với MASI nặng/ rất nặng cao gấp 3,06 lần so với thai phụ chưa sinh lần nào (p < 0,05; KTC 95%: 1,42 – 6,57).

Ảnh hưởng yếu tố gây rám má
Ảnh hưởng yếu tố gây rám má

Rám má trong thai kỳ có thể tự thoái triển nhưng thường tái phát hoặc kéo dài và nặng hơn vào những lần mang thai sau. Thai kỳ được xem như là yếu tố thúc đẩy hoặc tăng nặng rám má.

Sự phát triển rám má trong suốt thai kỳ có thể giải thích là do kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm tiếp xúc UVR, thay đổi nồng độ nội tiết tố và hiện tượng tăng hắc tố sau viêm. Trong nghiên cứu này thai phụ có tiền sử rám má trong lần mang thai trước có khả năng bị rám má nặng/rất nặng cao gấp 2,02 lần so với thai phụ không có tiền sử rám má trong lần mang thai trước (p < 0,01; KTC 95%: 1,25 – 3,29). Điều này chưa được ghi nhận trong các nghiên cứu trước đây cũng như trong y văn. Như đã bàn luận ở phần trên, tỉ lệ rám má có dùng thuốc ngừa thai đã được báo cáo trong các nghiên cứu trước đây rất thay đổi và chưa có kết luận nào đã ghi nhận về mối liên hệ giữa hai yếu tố này.

Xem thêm: Cách điều trị nám hiệu quả nhất

Kết quả thuốc ngừa thai tác động rám má

Theo Guinot C và cs [29], độ nặng rám má có liên hệ đáng kể với việc đang sử dụng thuốc ngừa thai uống. Nguy cơ rám má nặng cao hơn khoảng gấp 8 lần ở phụ nữ dùng thuốc ngừa thai. Tác dụng phụ này có thể là do estrogen và progesterone kích thích sinh hắc tố.

Nhưng, Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có mối liên quan giữa mức độ rám má và dùng thuốc tránh thai (p > 0,05). Điều này cũng trùng hợp với ghi nhận của một nghiên cứu khác được thực hiện tại miền Nam Brazil bởi Hexsel D và cs [4] cho rằng thuốc ngừa thai uống không làm tăng nặng rám má. Tuy nhiên không thể kết luận điều gì vì giới hạn trong thiết kế nghiên cứu và dữ liệu lệ thuộc tính chủ quan của lời khai của bệnh nhân. Thậm chí Benchikhi H và cs [98] còn cho rằng rám má không liên quan thuốc ngừa thai uống. Do đó chúng tôi thấy rằng không nên khuyến cáo phụ nữ có tiền sử rám má thai kỳ không nên dùng thuốc ngừa thai uống.

Tỷ số gây bệnh lý sắc tố, rám má có do yếu tố tiền sử?

Theo Ortonne JP và cs [5] tiền sử gia đình liên quan đến giảm nguy cơ rám má 2,5 lần khi uống thuốc ngừa thai, nhưng không liên quan đến khởi phát rám má trong thai kỳ. Kết quả nghiên cứu này cho thấy không có mối liên quan giữa mức độ rám má và tiền sử gia đình có người rám má (p > 0,05).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ rám má với tiền căn bệnh nội tiết hoặc bệnh mạn tính đi kèm (p > 0,05). Cho nên, Tiền sử gia đình có liên quan đến khả năng khởi phát rám má trong thai kỳ hoặc mức độ nặng của rám má trong thai kỳ hay không vẫn chưa được ghi nhận.

Kết quả trên cũng khớp với kết quả nghiên cứu của Benchikhi H [98] và Moin A cho thấy: có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0.05) giữa độ nặng rám má và thời lượng tiếp xúc ANMT mỗi ngày (ANMT là một trong những nguyên nhân chính gây rám má đã được ghi nhận trong y văn).

Rám má ở phụ nữ mang thai
Rám má ở phụ nữ mang thai

Kết quả tương quan giữa rám má bệnh lý sắc tố và ánh nắng

Khả năng bị rám má nặng sẽ tăng dần tỉ lệ thuận với thời lượng tiếp xúc với ánh nắng. Sự liên quan này vẫn được khẳng định sau khi dùng phân tích hồi qui logistic đa biến, trong đó nguy cơ bị rám má nặng/rất nặng ở thai phụ tiếp xúc ánh nắng từ 9-16 giờ nhiều hơn 1 giờ mỗi ngày cao gấp 6,21 lần so với thai phụ không tiếp xúc ánh nắng (p < 0,05; KTC 95%: 1,42 – 27,16). Kết quả này được chứng minh qua kết quả nghiên cứu của Guinot C và cs:  nguy cơ rám má nặng tăng cao hơn khoảng gấp 3 lần ở phụ nữ tiếp xúc ánh nắng nhiều. Điều này hỗ trợ cho giả thuyết rám má có liên quan đến việc thời lượng tiếp xúc ánh nắng tích lũy.

Nghiên cứu rám má sắc tố
Nghiên cứu rám má sắc tố

Xem thêm: Trị nám bằng laser

Song đó, việc sử dụng mỹ phẩm bôi mặt và các thuốc gây nhạy cảm ánh sáng cũng liên quan đến rám má. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đã công bố về vấn đề này một cách rõ ràng. Guinot C và cs chỉ ghi nhận một cách chủ quan rằng có 4% trường hợp bị tăng hắc tố tại vùng đã bôi mỹ phẩm. Không có mối liên quan giữa mức độ rám má và việc dùng mỹ phẩm (p > 0,05) trong nghiên cứu này.

Trên là kết quả nghiên cứu đã được chứng minh: về sự tương quan các yếu tố gây bệnh lý sắc tố, rám má và mức độ, tình trạng mắc phải hoặc làm rối loạn về bệnh lý sắc tố. Với bạn, các tỷ số nào mình chưa liệt kê, hay bạn còn có những con số được nào khác được chứng minh? được thống kê và có kết quả? Hãy cùng bổ sung thêm mình biết nhé./.

Theo: LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC từ tác giả LÊ THÁI VÂN THANH về cuộc NGHIÊN CỨU RÁM MÁ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP.

Bài hay đừng ngại bấm
và bấm Chia sẻ bên dưới nhé.

Chia sẻ bài viết lên :